Thuế Thu nhập cá nhân Singapore và Việt Nam theo Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần

Thuế Thu nhập cá nhân Singapore và Việt Nam theo Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần

Việt Nam và Singapore đã ký Hiệp định tránh tránh đánh thuế hai lần và ngăn chặn trốn thuế nên liên quan đến các cá nhân có thu nhập ở cả hai quốc gia hoặc cư trú tại quốc gia này những có thu nhập tại Quốc gia kia sẽ áp dụng các quy định của Hiệp định tránh đánh thuế hai lần để xác định nghĩa vụ thể của một cá nhân.

I. NGUYÊN TẮC NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN:

Theo quy định của Pháp luật Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) Việt Nam thì chia ra 2 loại đối tượng như sau:

i. Cá nhân cư trú tại Việt Nam: sẽ chịu thuế thu nhập cá nhân đối với các khoản thu nhập phát sinh tại Việt Nam và tại bất cứ nước nào khác.

ii. Cá nhân không cư trú tại Việt Nam: chỉ nộp thuế TNCN đối với các khoản thu nhập phát sinh tại Việt Nam.

II. XÁC ĐỊNH NƯỚC CƯ TRÚ:

Vì Việt Nam và Singapore có ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn chặn trốn lậu thuế đối với thuế đánh vào thu nhập (gọi tắc là Hiệp định Việt – Sing) nên đối với các cá nhân cơ nơi cư trú tại cả Việt Nam và Singapore thì việc xác định cá nhân đó thuộc đối tượng cư trú tại Việt Nam hay tại Singapore sẽ căn cứ tại Điều 4 của Hiệp định Việt-Sing. Cụ thể việc xác định sẽ căn cứ vào các tiêu chí sau:

a. Cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú của Nước ký kết mà tại đó cá nhân đó có nhà ở thường trú;

b. Nếu cá nhân đó có nhà ở thường trú ở cả hai Nước ký kết, thì cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú của Nước ký kết mà cá nhân đó có các quan hệ cá nhân và kinh tế chặt chẽ hơn (trung tâm của các quyền lợi chủ yếu);

c. Nếu như không thể xác định được Nước ký kết mà ở đó cá nhân đó có trung tâm các quyền lợi chủ yếu, hoặc nếu cá nhân đó không có nhà ở thường trú ở cả hai Nước ký kết thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Nước ký kết mà cá nhân đó thường sống;

d. Nếu thân phận cư trú không xác định được theo các điểm từ (a) đến (c) thì các nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ giải quyết vấn đề đó bằng thoả thuận chung .

III. SO SÁNH THUẾ TNCN VIỆT NAM VÀ SINGAPORE:

i. Thu nhập chịu thuế:

Chính sách pháp luật về Thuế TNCN giữa Việt Nam và Singapore có sự khác nhau cơ bản đối với thu nhập từ đầu tư vốn và chuyển nhượng cổ phần/ phần vốn góp. Cụ thể pháp luật Thuế TNCN Singapore không đánh thuế TNCN đối với các khoản thu nhập này, còn pháp luật Việt Nam thì đánh vào các khoản thu nhập này!

ii. Mức thuế suất:

Việt Nam Singapore
Cá nhân cư trú Áp dụng mức lãi suất lũy tiến từng phần từ mức (theo năm): 5%(>108tr), 10% (>120tr) cho đến 35% (>960tr) Áp dụng mức lãi suất lũy tiến từng phần từ mức (theo năm): 2% (>$20.000) cho đến 20% (>$320.000), từ 2017 lên 22% (>$320.000)
Cá nhân không cư trú Thu nhập từ tiền lương, tiền công là 20% trên tổng thu nhập. Thu nhập từ tiền lương, tiền công là 15% trên tổng thu nhập.

Đa số các khoản thu nhập khác là 20% trên tổng thu nhập.

Khác biệt cơ bản Thu nhập từ đầu tư vốn: 5% trên phần lãi cổ tức.

Thu nhập từ chuyển nhượng vốn: 0,1% trên tổng giao dịch.

Không đánh thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn và chuyển nhượng cổ phần/ phần vốn góp.

 

IV. KHẤU TRỪ THUẾ TNCN (Hiệp định tránh đánh thuế hai lần):

Vì Việt Nam và Singapore có ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn chặn trốn lậu thuế đối với thuế đánh vào thu nhập (gọi tắc là Hiệp định Việt-Sing) nên đối với các cá nhân có nơi cư trú và có thu nhập ở cả hai quốc gia là Việt Nam và Singapore hoặc có nơi cư trú tại nước này nhưng phát sinh thu nhập tại nước kia hoặc cả hai nước thì sẽ áp dụng Hiệp định Việt-Sing để xác định số thuế phải nộp tại một nước và việc khấu trừ lại tại nước kia để tránh việc đánh thuế hai lên lên một khoản thu nhập.

Cụ thể khi một cá nhân cư trú tại nước này (nước A) nhưng có thu nhập tại nước kia (nước B) thì theo nguyên tắc cá nhân đó có thể chịu hai khoản thuế đối với khoản thu nhập đó như sau:

i. Thuế thu nhập tại nước B do thu nhập đó phát sinh tại nước B.

ii. Thuế thu nhập tại nước A do cá nhân đó là cá nhân cư trú tại nước A.

Theo nguyên tắc tránh đánh thuế hai lần của Hiệp định Việt-Sing thì việc đánh thuế đối với cá nhân đó sẽ như sau:

i. Thuế thu tại nước B cứ thu bình thường (vì thu lần 1).

ii. Thuế thu tại nước A (thu lần 2) sẽ khấu trừ số tiền thuế đã thu tại nước B (thu lần 1) vào số thuế phải nộp tại nước A. Nhưng số tiền thuế được khấu trừ này sẽ không vượt quá phần thuế thu tại nước A được tính trước khi cho phép khấu trừ, phân bổ trên phần thu nhập đó.

V. Ý KIẾN PHÁP LÝ:

Thuế thu nhập cá nhân nói riêng và thuế thu nhập Singapore (cả thuế Thu nhập doanh nghiệp) nói chung thông thường đều thấp hơn tại Việt Nam rất nhiều. Nên khi một cá nhân vừa có thu nhập ở cả Singapore và cả Việt Nam thì chắc chắn tổng số thuế cá nhân đó nộp khi là cá nhân cư trú Singapore sẽ thấp hơn khi cá nhân đó là cá nhân cư trú Việt Nam. Vì thế, nếu có những điều kiện thích hợp thì cá nhân đó nên làm các thủ tục để được xác nhận là cá nhân cư trú tại Singapore theo mục II ở trên để đóng số tiền thuế thấp nhất.

Nguồn: indeedLaw.org


Để được tư vấn miễn phí, vui lòng liên hệ VietCham Singapore:

  • Tel: (+84) ‎090 100 65 65 (Call/SMS/Viber/Zalo/WhatsApp/WeChat) hoặc (+65) 9237 3692

  • Email: contact@vietcham.org.sg

  • Website: MoCongTySingapore.com | www.vietcham.org.sg

  • Trụ sở Tp. Hồ Chí Minh: S57-2, Sky Garden 3, Đường Phạm Văn Nghị, Phú Mỹ Hưng, Quận 7, Tp.HCM

  • Trụ sở Singapore: AZ @ Paya Lebar building, #01-11, 140 Paya Lebar Road, Singapore 409015